Người Phương Tây luôn tự hào với nguyên tắc làm chủ, chế ngự thiên nhiên nay thấy rơ hơn ai hết sự cần thiết giảm nhiệt cho sự phát triển kinh tế quá nóng của họ và phải bàn đến, kêu gọi sự chung sống hoà thuận, nương vào thiên nhiên trong thuyết Tam tài của kiến trúc Á Đông. Giảm sử dụng vật liệu nhân tạo như xi măng, thép, chất dẻo, hoá chất..., tận dụng vật liệu nguyên sơ như đá, đất, gỗ, tre…, tận dụng năng lượng mặt trời, năng lượng gió... người ta tái phát hiện và buộc phải phát triển đầy ư thức kiến trúc sinh thái.
Họ đang đề cập đến cái nguyên tắc sống mà người Việt chúng ta đă áp dụng, phát triển cực kỳ thành công từ cả ngàn năm nay trong kiến trúc, xây dựng.
Ông cha ta đă dựng, xây một ngôi nhà ở như thế nào?
Với hệ thống tự cung, tự cấp về kinh tế, người nông dân trước đây vốn sống trong các ngôi làng khép kín. Khi sinh con, người ta đă tính ngay nên trồng bao nhiêu cây xoan để đủ làm một ngôi nhà 3 gian hay 3 gian 2 chái lúc cho con lấy vợ sau 20 hay 25 năm. V́ kèo, đ̣n tay, rui mè đă có... Tre trồng quanh vườn. Gạch: Lấy đất từ ao hay ruộng rồi tự xây ḷ gạch để nung. Vôi th́ lấy ở núi đá vôi hoặc mua. Gỗ xoan, tre trước khi đem xây được ngâm kỹ dưới bùn ao khoảng một năm để chống mối mọt. Rơm lợp nhà là rơm của nhà. Thợ: Người nông dân vốn tay phải cầm cày, tay trái cầm dùi đục, cưa của người thợ mộc hay cái bay của thợ ngơa. Người trong gia đ́nh, bà con, láng giềng, mỗi người giúp một tay. Quan trọng nhất là có một người thợ cả biết chỉ huy với cái thước tầm kỳ diệu mà giản đơn. Ngay đến đầu thế kỷ 21 này, đa số thợ xây ở Việt Nam vẫn là người nông dân thuần phác cứ đến vụ gặt là kiểu ǵ họ cũng trở về lo thu hoạch lúa nhà ḿnh.
Một ngôi nhà điển h́nh? Ta hăy nói về một ngôi nhà kẻ truyền vùng Bắc Ninh. Một ngôi nhà ở 3 gian, 2 chái rộng khoảng 70–80 m2 kể cả diện tích hiên phía trước. Cao từ nền đến nóc mái khoảng 7–7,5 m. Ấn tượng ban đầu là cái mái lợp ngói ta ngả màu rêu phong, ở giữa sống mái hơi thấp một chút rồi cong nhẹ, cao dần ở hai đầu đỉnh mái được gọi là réo làm cho cái mái nhà trở nên “mềm” hơn, “dẻo” hơn. Cả ngói chiếu, cả ngói lợp, lợp theo kiểu viên trên đè viên dưới thường dày tới 4 - 5 cm. Đó là lư do làm cho trong nhà luôn mát hơn nhiều so với bên ngoài trời. Bộ khung gồm cột cái, cột quân, cột hiên theo kiểu “thượng thu, hạ thách”, ở sát chân kê lên đá tảng hơi quưt nhẹ h́nh quân cờ, rồi xà thượng, xà đại, xà nách, thương lượng, chồng rường, kẻ nghé, kẻ truyền, bẩy, hoành, ngưỡng cửa... đều được để trần.
Theo ư kiến của nhiều nhà chuyên môn về khảo cổ, kiến trúc, ngoài bằng chứng về h́nh hài các ngôi nhà trên trống đồng Ngọc Lũ thuộc nền văn hóa Đông Sơn, hay các mô h́nh nhà ở bằng đất nung được chôn trong các mộ Hán, gần đây nhất là việc phát hiện kết cấu nhà gỗ kiểu Hán có niên đại khoảng 2.000 năm ở Kiều Bồng, Quảng Nam th́ những ngôi nhà ở kết cấu bằng gỗ như chúng ta biết hiện nay ở khắp Bắc, Trung, Nam có sự du nhập, giao thoa và Việt hoá mạnh mẽ kiến trúc Hán, sau đó kiến trúc Chăm khoảng 1.000 năm nay. Đáng tiếc, hiện những ngôi nhà ở bằng gỗ cổ nhất c̣n được lưu giữ chỉ có tuổi trên dưới 300 năm.
Tất cả được ngàm vào nhau bằng mộng. Cả ngôi nhà dựng lên không cần tới một cái đinh. Khi cần, người ta có thể tháo rời ra để di chuyển... Tường nhà được xây bằng gạch đất nung dày khoảng 20 cm, mạch được để trần hay trát. Hướng nhà chính bao giờ cũng quay về phía Nam, Đông Nam để đón gió mát thổi từ hướng Nam nhất là khi nó đem được cái mát của hơi nước từ mặt ao trước sân vào nhà. Lưng nhà ở phía Bắc không có cửa, hai hồi có cửa sổ nhưng thường rất nhỏ để chống cái rét của gió mùa Đông Bắc. Ba gian chính để thờ, tiếp khách. Hai chái để ở, cất đồ gia dụng quư giá và để chứa thóc, gạo. Cái nhà phụ thường nhỏ hơn, mái lợp rơm dùng để làm bếp và nơi chứa công cụ nhà nông. Khi cần, chủ nhân có thể tháo các cánh cửa gỗ, nới rộng không gian từ nhà, qua hiên, đến tận sân thành một không gian mở phục vụ cả năm, bảy chục người ngày lễ lạt, hiếu hỉ.
Khu vườn bao quanh thường có hàng cau trước ngơ, những bụi chuối phía sau. Những ngôi nhà như vậy, những cái vườn như vậy, tạo nên những cái làng có luật, có lệ của nó như là một cơ thể sống thống nhất và đă tồn tại với lịch sử ngàn năm.
Ngôi nhà kết cấu gỗ cổ truyền Bắc Bộ với sự di dân thời Trịnh, Nguyễn phân chia. Sau đó là quá tŕnh dựng nước, giữ nước đă phát triển với rất nhiều biến thể, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế và xă hội ở từng vùng. Quy mô của ngôi nhà ở có từ 3 gian, 5 gian, 7 gian(*)... tùy theo vị trí quyền lực của chủ nhà. Nhưng tựu trung lại ta thấy 3 yếu tố nổi bật nhất của nhà ở cổ truyền ngoài bố trí chức năng sinh hoạt, ở, nằm ở hệ thống kết cấu của hệ khung chịu lực bằng gỗ, h́nh thức và vật liệu mái và vật liệu bao che tường.
Similar topics from web:
Phố cổ Hội An – Wikipedia tiếng Việt
Những chân dung Việt đáng nhớ trên đất Pháp
Hà Nội – Wikipedia tiếng Việt
Quy hoạch kiến trúc khu phố cổ Hà Nội sẽ có sự thay đổi
Văn Miếu
Hoài niệm với cổ xưa
Những họa sĩ nào nổi tiếng ở Việt Nam? | Phòng họp, hội nghị
Nhà văn Phạm Viết Đào: Thế Sự
Trúc Diễm tái tê vì bị
Quảng Nam – Wikipedia tiếng Việt
Nhà Nguyễn – Wikipedia tiếng Việt
Nhà Triều Tiên – Wikipedia tiếng Việt
Lịch sử Phật giáo – Wikipedia tiếng Việt
Thảo luận:Vấn đề chính thống của nhà Triệu – Wikipedia tiếng Việt
Vladimir Vladimirovich Putin – Wikipedia tiếng Việt
Phố cổ Hội An – Wikipedia tiếng Việt
Những chân dung Việt đáng nhớ trên đất Pháp
Hà Nội – Wikipedia tiếng Việt
Quy hoạch kiến trúc khu phố cổ Hà Nội sẽ có sự thay đổi
Văn Miếu
Hoài niệm với cổ xưa
Những họa sĩ nào nổi tiếng ở Việt Nam? | Phòng họp, hội nghị
Nhà văn Phạm Viết Đào: Thế Sự
Trúc Diễm tái tê vì bị
Quảng Nam – Wikipedia tiếng Việt
Nhà Nguyễn – Wikipedia tiếng Việt
Nhà Triều Tiên – Wikipedia tiếng Việt
Lịch sử Phật giáo – Wikipedia tiếng Việt
Thảo luận:Vấn đề chính thống của nhà Triệu – Wikipedia tiếng Việt
Vladimir Vladimirovich Putin – Wikipedia tiếng Việt











