Rated 5/5 based on 240179 internet user reviews

Đến nội dung


Hình ảnh

Kiến trúc Việt Nam.


  • Please log in to reply
2 replies to this topic

#1 gp14

gp14

    DO TUAN GIAP

  • Moderator
  • PipPipPipPipPipPipPip
  • 1860 Bài viết
Điểm đánh giá: 1115 (rất tốt)

Đã gửi 26 October 2008 - 09:29 AM

Kiến trúc làng trong tâm thức người Việt
Hình đã gửi Cấu trúc làng truyền thống với những với những yếu tố điểm như con đê, cổng làng, đình làng, cây đa, bến nước, những nhà vườn - ao khép kín hài hòa, cân bằng với môi trường thiên nhiên, là những đặc trưng cần được bảo lưu và hoàn thiện trong tiến trình phát triển mới.
"Qua đình ngả nón trông đình / Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu..."


Quê tôi là vùng đất bãi sông Hồng. Mẹ kể, tôi sinh vào một ngày đông muộn. Bà đỡ đã tắm cho tôi bằng thứ nước sông Hồng đã được đánh phèn để bớt đi cái mầu phù sa đỏ quạch. Thuở ấy, với tôi, khái niệm về quê hương cứ nhạt nhòa, xa vời vợi… bởi suốt tuổi thơ tôi lớn lên trong lòng Hà Nội.

Hình ảnh về làng quê với mái đình, con đê, bến sông… đến với tôi chỉ qua những chuyện kể của bà, những bài ca dao trên ghế nhà trường mà thầy giáo già dạy tôi thường ngâm nga, tựa như: Qua đình ngả nón trông đình / Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu.

Hay những câu thơ của cha tôi: Ngày Xuân trai gái trong thôn / Sang đò trẩy hội trống dồn năm canh / Đò sang lặng gió không trành / Mấy cô nghiêng bóng soi mình sửa ngôi. (Đò chiều – Xuân Thiêm ).

Vậy mà, như mảnh đất phù sa bồi đắp theo tháng năm, hình ảnh về quê hương, về cái nôi tôi sinh cứ dầy lên rõ nét, sâu đậm dần cùng với vốn sống, sự hiểu biết của một người đến độ trưởng thành…

Nghề kiến trúc đã cho tôi cơ hội đi nhiều, đến với nhiều vùng miền của đất nước. Để cho tôi được trở về, với niềm đau đáu, đam mê … mong tìm thấy ở làng quê nhỏ bé của mình nói riêng và của nông thôn nói chung một cái gì đấy, giản dị thôi, mà sao lại có sức hấp dẫn đến vậy.

Dẫu rằng, vùng quê nơi tôi đến hay trở về vẫn còn nghèo lắm, rất nghèo so với những đổi thay đến chóng mặt nơi phồn hoa đô thị trong nền kinh tế thị trường ngiệt ngã.
Hình đã gửi
Cổng một làng quê Việt Nam


Dấu ấn của kiến trúc làng là gì?

Giáo sư kiến trúc Đặng Thai Hoàng, một người có những kiến giải sâu sắc về kiến trúc đô thị thường trăn trở nói với tôi, đô thị của chúng ta, kể cả các thành phố lớn như Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh đều thiếu những "điểm nhấn" hay "Yếu tố điểm" (Landmarks).

Mà theo ông, "Landmarks" là hình ảnh gây ấn tượng cho con người với đô thị, nó tạo ra sự nhận biết về phương hướng, vị trí trong thành phố hoặc trong khu vực. Đó là một loại ký hiệu của cấu trúc đô thị như tháp Eiffel (Paris – Pháp), tháp truyền hình Tower ở Toronto (Canada), tòa tháp đôi Petronas ở Kuala Lumpur (Malaysia)… Tôi đồng ý với nhận xét của ông. Đấy là về đô thị. Còn kiến trúc nông thôn, mà tôi gọi là kiến trúc làng, thì cái cột mốc hay yếu tố điểm kia là cái gì?

Tôi đã dự nhiều cuộc hội thảo khoa học của các nhà quản lý, của giới quy hoạch, kiến trúc, được nghe nhiều lý luận cao siêu, chung chung có tiếng kêu gọi khi bàn về kiến trúc nông thôn của nhiều vị thức giả. Nhưng những nghiên cứu có tính thực tiễn thì vẫn hiếm hoi lắm!

Trên thế giới, không quốc gia nào lại không tồn tại hai môi trường cư trú: Đô thị và Nông thôn. Mà đã có nông thôn là có làng. Nhưng có lẽ, không ở đâu có cấu trúc làng như ở nước ta - Làng Việt. Một kiểu làng đặc trưng của đồng bằng Bắc bộ, sản phẩm của nền văn minh lúa nước, canh tác lạc hậu với “con trâu đi trước, cái cày theo sau".

Hình đã gửi
Đình làng Nông Lục (Bắc Sơn-Lạng Sơn).

Làng Việt truyền thống có cấu trúc không lớn. Làng nằm kề cánh đồng, ruộng lúa, sở hữu của cư dân trong làng. Làng nọ cách làng kia cũng bởi cánh đồng làng.

Từ hàng nghìn đời nay, mối quan hệ xã hội trong làng chủ yếu là thứ quan hệ “ Gia đình – họ hàng – làng nước". Có nhà nghiên cứu dân tộc học cho rằng, làng là sự mở rộng của huyết thống, nước thì xa hơn, nhưng cũng chung một cội nguồn.

Có phải vì thế chăng mà trong lịch sử Việt Nam, các vị vua thường xưng "Tổ" hoặc "Tông" như: Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông… cũng bởi từ cội nguồn và huyết thống. Nói như vậy để thấy vị trí của làng quan trọng đến thế nào trong xã hội Việt Nam truyền thống.

Cấu trúc không gian của làng không phức tạp, nhưng cũng không đơn giản đến mức đơn điệu. Ở đồng bằng Bắc Bộ, hầu như làng nào cũng có lũy tre xanh bao bọc, dù làng nằm trong đê hay ngoài đê (ngoài bãi).

Lũy tre ken dầy bởi lớp lớp cây tre, măng tre… như bức tường thành che chở cho làng khi có cướp, có giặc ngoại xâm, là nơi cung cấp vật liệu cho làng làm nhà, làm công trình công cộng và bao vật dụng sinh hoạt hằng ngày.

Muốn vào làng phải đi qua cổng làng. Cổng làng xưa thường xây bằng gạch, nhiều làng ở vùng trung du và xứ Đoài - Hà Tây (nay đã sáp nhập với Hà Nội) thì xây bằng đá ong, liên kết bằng vôi, vữa trộn với mật mía và muối rất chắc chắn. Qua cổng làng là con đường làng lát gạch nghiêng hình mu rùa.
Hình đã gửi
Đường làng quanh co...
Từ đây, ta sẽ bước vào thế giới làng với hệ thống đường ngang, ngõ tắt như xương cá, mà đường làng là xương sống. Nhưng dù đi đến đâu, thì nhà nào nhà nấy cứ mở cổng ra là gặp ngõ, qua ngõ là đường làng. Năm này qua năm khác, thế hệ sau nối tiếp thế hệ trước, tất cả đều đi trên đường làng và đi qua cổng làng.

Ai đấy đã ví, cổng làng như một nhà ga, ở đó có đợi chờ, có chia ly, có nước mắt em nhạt nhòa trong chiều muộn tiễn người yêu lên đường đi xa, có dáng mẹ gầy xiêu xiêu suốt một đời tần tảo nuôi con, chờ chồng đằng đẵng suốt cuộc chiến tranh.

Giáo sư Hoàng ơi! Với tôi và có thể cả với ông, cái cổng làng bình dị ấy sao không thể là một “Cột mốc", một “Yếu tố điểm" quan trọng trong cấu trúc làng!

Trong làng, ngôi Đình có vị trí tâm linh đặc biệt. Đình làng không chỉ là nơi thờ Thành hoàng làng, mà còn là nơi sinh hoạt chung của cộng đồng. Nhà văn Ngô Tất Tố đã từng cho rằng, nếu như làng là xã hội Việt Nam thu nhỏ thời phong kiến, thì Đình là hình ảnh của làng.

Nơi đây diễn ra những cuộc họp của bô lão trong làng, trong họ tộc, từ chuyện làm lễ lên lão cho nhà này, phạt vạ nhà kia có con gái không chồng mà chửa… cho đến những việc đại sự như đón sắc phong của vua ban, hội đình, tất tật đều được diễn ra ở sân Đình và theo lệ của làng.

Hình đã gửi
Một góc Mông Phụ Đường Lâm


Đình làng với kiến trúc đặc sắc từ kỹ thuật dựng lắp đến nghệ thuật chạm khắc trên các hệ vì, bẩy, kẻ đã trở thành tinh hoa của nghệ thuật kiến trúc truyền thống. Nhà trong làng hầu hết là nhà tranh vách đất, sau này đời sống khá hơn là tường gạch, mái ngói. Bố cục nhà trong làng gần như giống nhau, có nhà chính, nhà phụ. Nhà chính thường ba gian hai chái và có hiên rộng.

Hiên được che bởi một lớp dại đan bằng tre có thể tháo lắp dễ dàng, vừa kín đáo trong sinh hoạt, vừa tiện mở rộng không gian khi cần thiết, ngăn gió lạnh về mùa đông, che bớt cái nắng gắt chói chang của mùa hè. Nhà chính là nơi ở, nơi thờ cúng tổ tiên, ông bà, nơi tiếp khách.

Hai chái nhà thường được xây kín không mở cửa sổ, là nơi để đồ, hoặc dành làm chỗ ngủ cho đàn bà con gái. Nhà phụ là bếp, chuồng lợn, gà. Nhà chính, nhà phụ thường bố cục theo hình chữ L, ôm lấy cái sân rộng. Trước sân là một ao nhỏ được tạo nên bởi quá trình vật đất tôn nền làm nhà, chung quanh bờ ao thường trồng cây lưu niên.

Cấu trúc nhà trong làng giản dị, nhưng rất hài hòa với môi trường thiên nhiên trong lành, có ao cá, vườn cây… Chả thế mà nhiều vị quan khi về hưu, cởi bỏ mũ mão cân đai trở về làng vui thú điền viên là vậy.

Hình đã gửi
Những mái nhà đỏ san sát trong làng cổ Việt Nam

Cấu trúc làng truyền thống có nguy cơ bị phá vỡ

Những năm gần đây, người ta hay nói đến cụm từ “Phát triển bền vững". Đây là một khái niệm xuất hiện vào cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, do ủy ban Môi trường và phát triển thế giới đề xướng.

Sau Đại hội IX của Đảng, vấn đề phát triển bền vững ở nước ta đã trở thành quan điểm thể hiện trong Chiến lược phát triển kinh tế thời kỳ 2001 – 2010. Và cũng đã có cả một Nghị quyết về CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn.

Chúng ta đang trong tiến trình đô thị hóa mạnh mẽ để theo kịp xu thế chung của thời đại và hội nhập quốc tế. Đó là quy luật tất yếu của sự phát triển. Theo số liệu điều tra gần đây, hàng năm đất nông thôn bị giảm gần ba vạn ha bởi tác động của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và cả xói mòn, lở đất… Điều đó có nghĩa là đất canh tác ngày càng thu hẹp lại.

Khoảng cách giữa làng và đô thị không còn xa nữa, thậm chí có nơi phố và làng đã tiếp cận nhau, hòa vào nhau để trở thành Phố – Làng. Cấu trúc làng truyền thống đang đứng trước nguy cơ bị phá vỡ. Đó là một thực tế!

Việc đi tìm một mô hình làng mới, cấu trúc mới phù hợp với sự phát triển của khoa học công nghệ, nâng cao đời sống của nông dân là vấn đề bức thiết, phải được quan tâm. Hiện nay, nhiều nhà quản lý, quy hoạch và cả trên báo chí hay dùng khái niệm "Đô thị hóa nông thôn".

Theo tôi, cần xem lại khái niệm này. Đô thị hóa là quá trình biến một nơi nào đó thành đô thị. Nhưng không vì thế mà biến nông thôn truyền thống Việt Nam thành đô thị của thời hiện đại! Cấu trúc làng truyền thống với những với những yếu tố điểm như con đê, cổng làng, đình làng, cây đa, bến nước, những nhà vườn - ao khép kín hài hòa, cân bằng với môi trường thiên nhiên, là những đặc trưng cần được bảo lưu và hoàn thiện trong tiến trình phát triển mới.

Chúng ta đang thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nông thôn là để nông thôn phát triển, để đời sống nông dân được cải thiện, đủ đầy theo xu thế đi lên của xã hội, chứ không làm mất đi bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của nông thôn.

Chúng ta cải thiện hạ tầng kỹ thuật ở nông thôn như xây dựng hệ thống điện, nước sạch, làm đường, mương bêtông, sử dụng hầm chứa rác tạo khí bioga … là hướng đi đúng đắn mà Nghị quyết của Đảng đã từng chỉ rõ.

Chúng ta bảo tồn những giá trị văn hóa tốt đẹp được xây dựng từ hàng nghìn năm nay, nhưng kiên quyết xóa bỏ những hủ tục, lệ làng lạc hậụ để xây dựng hương ước mới, phong tục mới, cuộc sống mới trong một xã hội có kỷ cương, dân chủ, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.

Hình đã gửi
Không gian kiến trúc làng truyền thống cần được tôn trọng.

Sẽ ra sao khi cấu trúc làng truyền thống biến mất, thay vào đó là những dãy nhà kiểu hàng phố cao ngất ngưởng 4 – 5 tầng, kiến trúc lai căng, kệch cỡm, với đủ loại biển hiệu xanh, đỏ lòe loẹt mà ta gọi là “Đô thị hóa"

Người viết bài này cứ mường tượng ra cái làng xưa yêu dấu của mình sẽ được các kiến trúc sư sắp xếp lại cho hợp lý hơn, tiện lợi hơn, để sau lũy tre làng là những ngôi nhà 1 – 2 tầng xây gạch không nung, mái lợp tôn cách nhiệt. Con đường làng được đổ bê tông, có hệ thống tiêu thoát nước…

Ngày ngày, từ cái cổng làng quen thuộc, những nông dân của thời đổi mới ra cánh đồng cao sản làm việc với các nông cụ tiên tiến. Để rồi khi chiều xuống, họ lại trở về sống bình yên trong ngôi nhà ấm cúng với đầy đủ tiện nghi, có nước sạch, xem ti vi hay nghe nhạc trong một khuôn viên có ao cá, vườn cây…

Rồi những đêm hội mùa xuân, trên chiếu chèo ở sân đình, các cô gái làng xinh đẹp sẽ lại hóa thân vào những Thị Mầu, Thị Kính qua làn điệu dân ca mượt mà, đằm thắm. Đó là cuộc sống của nông thôn Việt Nam trong tương lai gần mà chúng ta đang hướng tới và phấn đấu.

Tôi không hiểu sâu về triết học, nhưng tôi thấy thực có lý khi đọc được ở đâu đó một phát hiện lý thú: Nếu lấy Huế làm tâm, quay một vòng ta sẽ được vòng tròn thái cực âm dương. Cái bờ biển cong hình chữ S của Tổ quốc chính là đường tiếp cận giữa âm và dương ấy. Âm là biển Đông. Còn phía đất liền có dãy Trường Sơn bao bọc là dương. Đất – Cha, Biển – Mẹ là thế.

Cội nguồn của dân tộc, của văn hóa truyền thống cũng bắt đầu từ đó, nó bền vững, trường tồn qua cả nghìn năm thuộc Bắc, rồi sau này là gần trăm năm bị kẻ thù phương Tây đô hộ. Và, kiến trúc làng Việt là một phần của mạch nguồn văn hóa dân tộc chảy mãi khôn cùng…

Nguồn: kientrucvietnam.org.vn
  • 0

#2 gp14

gp14

    DO TUAN GIAP

  • Moderator
  • PipPipPipPipPipPipPip
  • 1860 Bài viết
Điểm đánh giá: 1115 (rất tốt)

Đã gửi 11 November 2008 - 09:56 PM

Cố đô Huế

Huế là một thành phố ở miền Trung Việt Nam. Là kinh đô một thời của Việt Nam, Huế nổi tiếng với những đền chùa, thành quách, lăng tẩm, kiến trúc gắn liền với cảnh quan thiên nhiên.

Vị trí địa lý

Thành phố Huế là đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh Thừa Thiên-Huế, tọa lạc hai bên bờ dòng sông Hương. Huế nằm ở phía bắc đèo Hải Vân, cách Đà Nẵng 200km.
Hình đã gửi
Sông Hương núi Ngự

Phía bắc sông Hương là Kinh thành Huế, trung tâm văn hóa lịch sử của thành phố.

Kinh thành Huế lấy núi Ngự Bình (phía nam sông Hương) làm tiền án và 2 đảo nhỏ trên sông Hương là cồn Hến (Thanh Long) và cồn Dã Viên (Bạch Hổ) làm rồng chầu hổ phục.

Kinh thành Huế có 3 lớp: Kinh Thành, Hoàng Thành, Tử Cấm Thành.

Ngày nay, bên ngoài Kinh Thành

phía nam giáp đường Trần Hưng Đạo, Lê Duẩn
phía tây giáp đường Lê Duẩn
phía bắc giáp đường Tăng Bạt Hổ
phía đông giáp đường Phan Đăng Lưu.
Bên trong Kinh Thành

phía nam là đường Ông Ích Khiêm
phía tây là đường Tôn Thất Thiệp
phía bắc là đường Lương Ngọc Quyến
phía đông là đường Xuân 68.

Cửa Thể Nhân và 4 khẩu thần công Xuân, Hạ, Thu, ĐôngKinh Thành Huế có 10 cửa, thứ tự theo chiều kim đồng hồ như sau (trong ngoặc là tên mà người Huế thường dùng):

1. Cửa Thể Nhân (cửa Ngăn, nằm ngay trước Hoàng Thành, nay đi vào đường Cửa Ngăn)
2. Cửa Quảng Đức (cửa Sập, đường Cửa Quảng Đức)
3. Cửa Chính Nam (cửa Nhà Đồ, đường Nguyễn Trãi)
4. Cửa Tây Nam (cửa Hữu, đường Yết Kiêu)
5. Cửa Chính Tây (cửa Chánh Tây, đường Thái Phiên)
6. Cửa Tây Bắc (cửa An Hòa, đường Nguyễn Trãi)
7. Cửa Chính Bắc (cửa Hậu/cửa Mang Cá lớn, đi vào cửa, rẽ phải là đường Lương Ngọc Quyến)
8. Cửa Đông Bắc (cửa Trài/cửa Mang Cá nhỏ, đường Cửa Trài)
9. Cửa Chính Đông (cửa Đông Ba, đường Mai Thúc Loan)
10. Cửa Đông Nam (cửa Thượng Tứ, đường Đinh Tiên Hoàng)
Ngoài ra còn có 1 cửa nhỏ là cửa Trấn Bình, thông với Trấn Bình Đài (nay là đồn Mang Cá).

Ngoài các cửa đường bộ kể trên còn có 2 cửa đường thủy nằm về 2 đầu Ngự Hà (con sông đào nằm trong Kinh Thành). Hai cửa đó là Đông Thành Thủy Quan (thông ra sông Đông Ba) và Tây Thành Thủy Quan (thông ra sông Bạch Yến; sông Bạch Yến và sông Đông Ba đều thông với sông Hương).
Hình đã gửi
Cửa Thể Nhân và 4 khẩu thần công Xuân, Hạ, Thu, Đông

Sông Ngự Hà gồm có 5 cống/cầu, theo hướng từ Đông sang Tây như sau:

1. Cầu Đông Thành Thủy Quan (cống Lương Y, nằm trên Đông Thành Thủy Quan và trên đường Xuân 68)
2. Cầu Ngự Hà (cống Cầu Kho, trên đường Đinh Tiên Hoàng, thẳng góc với cửa Thượng Tứ và cửa Hậu)
3. Cầu Khánh Ninh (cống Hắc Báo, trên đường Trần Văn Kỷ, đi vào sân bay Tây Lộc)
4. Cầu Vĩnh Lợi (cống Vĩnh Lợi, trên đường Nguyễn Trãi, thẳng góc với cửa Nhà Đồ và cửa An Hòa)
5. Cầu Tây Thành Thủy Quan (cống Thủy Quan, nằm trên Tây Thành Thủy Quan và trên đường Tôn Thất Thiệp)
Gần cửa Thể Nhân và cửa Quảng Đức có 9 khẩu súng, gọi là cửu vị thần công. Chín khẩu súng đó có tên là Xuân, Hạ, Thu, Đông, Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.

Hình đã gửi
Ngọ Môn, cổng chính vào Hoàng thành Huế

Hoàng Thành và Tử Cấm Thành được gọi chung là Đại Nội. Hoàng Thành có 4 cửa:

Cửa Ngọ Môn (phía Nam, trông ra đường 23 tháng 8)
Cửa Hòa Bình (Bắc, trước dành cho vua đi chơi, trông ra đường Đặng Thái Thân)
Cửa Chương Đức (Tây, trước dành cho phái nữ, trông ra đường Lê Huân)
Cửa Hiển Nhơn (Đông, trước dành cho phái nam, trông ra đường Đoàn Thị Điểm)
Riêng Ngọ Môn có 5 cửa:

Ngọ Môn năm cửa chín lầu
Một lầu vàng, tám lầu xanh
Ba cửa thẳng, hai cửa quanh
(Ca dao)
Chính giữa là Ngọ Môn, dành cho vua
Tiếp theo là Giáp Môn, dành cho quan lại
"Hai cửa quanh" là Dịch Môn, dành cho voi, ngựa và binh lính
"Chín lầu" chỉ lầu Ngũ Phụng (nằm phía trên Ngọ Môn), gồm 2 tầng nhưng có 9 mái. "Lầu vàng" nằm giữa, cao nhất, lợp ngói hoàng lưu ly (men vàng). "Tám lầu xanh" thấp hơn, lợp ngói thanh lưu ly (men xanh).

Hình đã gửi
Điện Thái Hoà

Đại Nội còn có các công trình nổi tiếng sau

Điện Thái Hòa: nơi cử hành các nghi lễ quan trọng của triều đình
Cung Diên Thọ: nơi ở của hoàng thái hậu (mẹ của vua)
Cung Trường Sanh: nơi ở của thái hoàng thái hậu (bà nội của vua)
Vườn Cơ Hạ, điện Khâm Văn: nơi các hoàng tử học tập và chơi đùa
Hiển Lâm Các: nơi tưởng nhớ công lao của vua quan nhà Nguyễn
Miếu thờ:

Triệu Miếu: thờ Nguyễn Cam (sách sử ngày nay thường viết là Nguyễn Kim, nhưng Nguyễn Phúc tộc thế phả gọi là Nguyễn Cam)
Thái Miếu: thờ 9 chúa Nguyễn
Hưng Miếu: thờ Nguyễn Phúc Luân, cha của vua Gia Long
Thế Miếu: thờ các vua Nguyễn
Điện Phụng Tiên: cũng thờ các vua Nguyễn, nhưng dành cho phái nữ đến lễ vì họ không được phép vào Thế Miếu
(Trong họ Nguyễn Phúc, Nguyễn Cam được tôn là Triệu Tổ, Nguyễn Hoàng: Thái Tổ, Nguyễn Phúc Luân: Hưng Tổ, Nguyễn Ánh: Thế Tổ.)
Hình đã gửi
Cửu đỉnh

Trước sân Thế Miếu có Cửu Đỉnh, là 9 đỉnh đồng lớn, mỗi đỉnh có một tên riêng ứng với miếu hiệu của một vị hoàng đế đã thờ trong Thế Miếu.

Cao đỉnh: Thế Tổ Cao Hoàng Đế (vua Gia Long)
Nhân đỉnh: Thánh Tổ Nhân Hoàng đế (vua Minh Mạng)
Chương đỉnh: Hiến Tổ Chương hoàng đế (vua Thiệu Trị)
Anh đỉnh: Dực Tông Anh hoàng đế (vua Tự Đức)
Nghị đỉnh: Giản Tông Nghị hoàng đế (vua Kiến Phúc)
Thuần đỉnh: Cảnh Tông Thuần hoàng đế (vua Đồng Khánh)
Tuyên đỉnh: Hoằng Tông Tuyên hoàng đế (vua Khải Định)
Còn hai đỉnh Dụ và Huyền không ứng với vua nào. (Vua Dục Đức, vua Hiệp Hòa, vua Hàm Nghi, vua Thành Thái, vua Duy Tân bị phế ngôi nên lúc bấy giờ không được thờ trong Thế Miếu. Vua Bảo Đại mới mất sau này.)
Hình đã gửi
Duyệt Thị Đường

Lớp trong cùng của kinh thành là Tử Cấm Thành, chỉ dành cho vua và gia đình, gồm có:

Điện Cần Chánh: nơi vua làm việc hàng ngày
Điện Càn Thành: nơi ở của vua
Cung Khôn Thái: nơi ở của hoàng quý phi (vợ chính của vua -- nhà Nguyễn không lập hoàng hậu, ngoại trừ vua Bảo Đại phá lệ)
Điện Quang Minh: nơi ở của các hoàng tử
Điện Trinh Minh: nơi ở của các phi tần
Điện Kiến Trung: xây thời Khải Định, nơi ở của vua, đến thời Bảo Đại thì Nam Phương hoàng hậu và các hoàng tử, công chúa cũng ở đây
Thái Bình Lâu: nơi vua đọc sách
Duyệt Thị Đường: nhà hát
Sở Thượng Thiện: nơi nấu ăn cho vua
và Thái Y viện, vườn Thiệu Phương, vườn Ngự Uyển, v.v...

Bên trong Kinh Thành còn có nhiều công trình nổi tiếng khác như Quốc Sử Quán (nay là trường Nguyễn Huệ, đường Đinh Tiên Hoàng), hồ Tịnh Tâm (đường Đinh Tiên Hoàng), Tam Tòa (đường Tống Duy Tân), điện Long An (nay là bảo tàng mỹ thuật cung đình Huế, đường Lê Trực), Quốc Tử Giám (1955-1975 là trường Hàm Nghi, nay là Bảo tàng lịch sử Thừa Thiên Huế, đường 23 tháng 8).

Vẫn ở bờ bắc sông Hương, phía ngoài Kinh Thành còn có Kỳ Đài, Phu Văn Lâu, Nghênh Lương Đình, Thương Bạc, Văn Miếu, Võ Miếu. Phía nam sông Hương có đàn Nam Giao, Hổ Quyền, cung An Định.

Hình đã gửi
Lăng Khải Định

Ngoài hệ thống thành, cung điện, đền đài, Huế còn có lăng tẩm các vị vua triều Nguyễn, gồm có:

Thiên Thọ lăng (lăng Gia Long)
Hiếu lăng (lăng Minh Mạng)
Xương lăng (lăng Thiệu Trị)
Khiêm lăng (lăng Tự Đức, phía trong có Bồi lăng, là lăng của vua Kiến Phúc, con nuôi của vua Tự Đức)
Tư lăng (lăng Đồng Khánh)
Ứng lăng (lăng Khải Định)
An Lăng (lăng của 3 vị vua: Dục Đức, Thành Thái, Duy Tân)

Những địa danh nổi tiếng khác ở Huế là:

Bờ bắc: chợ Đông Ba, cầu Trường Tiền, chùa Diệu Đế, phố cổ Bao Vinh, phố cổ Gia Hội, chùa Thiên Mụ, chùa Huyền Không, điện Hòn Chén.
Bờ nam: chùa Từ Đàm, chùa Báo Quốc, chùa Từ Hiếu, chùa Trà Am, Thành Lồi, nhà thờ Phủ Cam, nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, Tòa khâm sứ (nay là trường Đại học Sư phạm), trường Quốc Học, trường Đồng Khánh (nay là trường Hai Bà Trưng), núi Bân, đồi Vọng Cảnh, đồi Thiên An.
Ngoài ra, vùng Gia Hội, Kim Long, Vỹ Dạ còn nhiều di tích dinh, phủ của quan lại và hoàng thân nhà Nguyễn.
  • 0

#3 gp14

gp14

    DO TUAN GIAP

  • Moderator
  • PipPipPipPipPipPipPip
  • 1860 Bài viết
Điểm đánh giá: 1115 (rất tốt)

Đã gửi 13 November 2008 - 11:12 PM

Nhà thờ Việt Nam
Hình đã gửi Đi dọc đất nước Việt Nam, chúng ta bắt gặp rất nhiều công trình kiến trúc nhà thờ rất đẹp và cũng rất thơ mộng. Hãy nhìn và cảm nhận.
1. Nhà thờ Phú Thượng - Đà Nẵng
Hình đã gửi
Nằm trên đường 605, từ ngã ba Hòa Khánh đi Bà Nà, cách Đà Nẵng khoảng 20 km về phía tây, thuộc địa phận xã Hòa Sơn, huyện Hòa Vang là Giáo xứ Hòa Sơn. Giáo xứ được thành lập vào năm 1876, do các linh mục người Pháp dòng Thừa xây dựng.
Giáo xứ bao gồm hai xứ đạo với 6 nhà thờ, 2 nhà nguyện tạo thành một quần thể kiến trúc công giáo độc đáo; trong đó nhà thờ lớn, cổ nhất là nhà thờ Phú Thượng. Hoàn thành năm 1887, nhà thờ Phú Thượng toát lên vẻ cổ kính, trầm mặc. Hiện nay, nhà thờ đang được trùng tu để thay thế các cột gỗ giữa nhà thờ đã bị mối mọt làm hư hại bằng các dầm bằng bêtông. Đối diện nhà thờ Phú Thượng có một khuôn viên dành cho dòng tu kín Phao-lô.

2. Nhà thờ con gà - Đà Lạt
Hình đã gửi
Nhà thờ Chánh toà của Ðà Lạt được dân địa phương quen goi là nhà thờ Con Gà vì trên đỉnh tháp chuông có hình con gà lớn. Biểu tượng con gà có ý nhắc nhở, cảnh tỉnh và mời gọi ăn năn. Nhà thờ được xây dựng từ năm 1931 đến năm 1942 mới hoàn thành, là một trong những công trình kiến trúc tiêu biểu và cổ xưa nhất của Ðà Lạt, có chiều dài 65m, rộng14m, tháp chuông cao 47m. Với độ cao đó, từ tháp chuông của nhà thờ du khách có thể nhìn thấy mọi nơi của thành phố. Cửa chính của nhà thờ hướng về núi Langbiang. Phần áp mái trang trí bằng 70 tấm kính màu chế tạo từ Pháp, làm cho khung cảnh thánh đường thêm phần huyền ảo, thể hiện một nét trong kiến trúc nhà thờ Châu Âu thời Trung cổ. Vào dịp Giáng sinh hàng năm, nơi đây thu hút rất nhiều người cả trong và ngoài đạo đến dự lễ tham quan. Giám mục đương nhiệm là Phêrô Nguyễn Văn Nhơn.

3. Nhà thờ Trà Cổ - Quảng Ninh
Hình đã gửi
Vị trí: Nhà thờ Trà Cổ thuộc phường Trà Cổ, thị xã Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
Đặc điểm: Nhà thờ được xây dựng từ thế kỷ 19 và được trùng tu lại năm 1995. Nhà thờ có hàng trăm bức phù điêu và một quả chuông 80 năm tuổi.

Được xây dựng từ những năm 1880, nhà thờ Trà Cổ khá đồ sộ và có kiến trúc đẹp. Trong nhà thờ có một chuông cổ có từ 80 năm trước. Sau một thời gian bị hư hỏng, đến năm 1995 nhà thờ được sửa chữa lớn. Hàng trăm bức phù điêu được khôi phục, trả lại cho nhà thờ dáng vẻ cổ kính như xưa. Nhà thờ là điểm tham quan nổi tiếng của vùng Trà Cổ, Móng Cái.

4. Nhà thờ Thánh Jeanne d' Arc - TP HCM
Hình đã gửi
Vị trí: 116B Hùng Vương, phường 9, quận 5, Tp. Hồ Chí Minh.

Ðặc điểm: Nhà thờ Thánh Jeanne d' Arc được kiến trúc theo Tây phương, kiểu Gothique, toạ lạc trên nghĩa trang Hoa Kiều (người Pháp gọi là Plaine des tombeaux). Nhà thờ được khởi công xây dựng năm 1922 và khánh thành 5/1928.

Những thập niên đầu thế kỷ 20, vùng Chợ Lớn rất phồn thịnh. Dân chúng chuyển về đây sinh sống ngày một đông. Giáo dân người Việt cũng theo đà phát triển kinh tế mà gia tăng. Vào thời điểm này, cha Gioan Baotixita Huỳnh Tịnh Hướng đã cất một ngôi thánh đường với danh hiệu là Jeanne d' Arc. Người dân thường gọi là "Nhà thờ Ngã Sáu", vì gần nhà thờ có ba con đường Nguyễn Tri Phương, Ngô Gia Tự, Nguyễn Chí Thanh đan chéo nhau chia thành sáu hướng đi.

5. Nhà thờ đá Phát Diệm - Ninh Bình
Hình đã gửi
Nhà thờ Phát Diệm thuộc địa phận thị trấn Phát Diệm huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình, cách Hà Nội 130 km về phía Nam, được xây dựng vào những năm 1875 - 1899.

Phát Diệm có nghĩa là phát sinh ra cái đẹp, tên Phát Diệm do Nguyễn Công Trứ đặt. Nhà thờ đá được xây dựng trong suốt thời gian 24 năm liên tục, với trình độ kỹ thuật và điều kiện giao thông của những năm cuối thế kỷ 19 thì chỉ việc vận chuyển hàng nghìn tấn đá, có những phiến nặng 20 tấn, hàng trăm cây gỗ lim về tới Phát Diệm để xây nhà thờ cũng là một kỳ công. Kim Sơn vốn là vùng đất mới khai khẩn, trước đây rất lầy lội, để xử lư độ lún của khu đất trước khi xây dựng người ta đã chuyển cả một quả núi nhỏ cách 40 km về Phát Diệm, khách về thăm nhà thờ còn thấy núi Sọ, đấy chính là một phần của trái núi đã được dân rời về Phát Diệm. Ở phía bắc khu nhà thờ đá Phát Diệm có 3 hang đá được tạo bằng những khối đá lớn nhỏ khác nhau giữ nguyên dáng vẻ tự nhiên. Trong đó, hang Lộ Ðức là đẹp nhất. Nhà thờ đá Phát Diệm, một công trình kiến trúc độc đáo có một không hai ở Việt Nam. Các công trình kiến trúc nguy nga, tráng lệ nhưng hài hòa với cảnh vật thiên nhiên, mang đậm phong cách kiến trúc Á Đông.

6. Nhà thờ Đức Bà - TP HCM
Hình đã gửi
Nhà thờ Ðức Bà còn gọi là nhà thờ Lớn thành phố Hồ Chí Minh, một công trình kiến trúc lớn ở quảng trường công xã Pari, trung tâm thành phố, với hai tháp chuông cao 40 mét.

Nhà thờ được khởi công xây dựng ngày 7 tháng 10 năm 1877, một cha cố người Pháp tên là Colombert đã đặt viên đá đầu tiên và khánh thành ngày 11 tháng 4 năm 1880. Nhà thờ được xây dựng theo bản đồ án thiết kế vẽ từ bên Pháp, do kỹ sư người Pháp tên là Baurad chỉ huy thi công với tổng số tiền là hai triệu rưỡi franc lúc bấy giờ.

7. Nhà thờ lớn - Hà Nội
Hình đã gửi
Nhà thờ lớn hay nhà thờ St. Joseph, Hà Nội Xây dựng trên khu đất cao vốn là chân tháp Bảo Thiên nổi tiếng của Thăng Long có từ thời Lý Thánh Tông (1054 - 1072).được xây dựng theo dòng kiến trúc Gôtic, khánh thành đúng vào Lễ Giáng sinh năm 1887. Nhà thờ Lớn Hà Nội là sự tiêu biểu và đặc trưng nhất của nghệ thuật kiến trúc Gô tích thời Trung Cổ ở châu âu với những mái vòm uốn cong, rộng, hướng lên đỉnh trời, đón ánh sáng.

Lối kiến trúc này luôn cho người xem ấn tượng về một không gian tôn giáo uy nghiêm. Nhà thờ Lớn lại nhộn nhịp đón chào một mùa Giáng sinh mới cùng bao lời cầu ước tốt đẹp cho cuộc đời...

8. Nhà thờ Cửa Bắc - Hà Nội
Hình đã gửi
Nhà thờ Cửa Bắc Hiện Nhà thờ ở 56 phố Phan Đình Phùng, quận Ba Đình, xây dựng ở Cửa Bắc thành Thăng Long vào năm 1931 - 1932, do một linh mục, kiến trúc sư người Pháp tên là Đô-pô-lit (tên Việt gọi đó là Cố Hương) thiết kế theo kiểu hình chữ nhật (kiến trúc Ba-xi-la-va), kết hợp phong cách Á - Âu, không tuân theo quy tắc đối xứng, mà lệch với tháp chuông cao ở bên phải và cân bằng với mái vòm ở trung tâm.

Nhà thờ Cửa Bắc không chỉ là một địa chỉ tôn giáo mà còn là một công trình kiến trúc có nhiều nét độc đáo, tạo thêm điểm chấm phá trong không gian đô thị Hà Nội.

9. Nhà thờ đá cổ Sapa
Hình đã gửi
Dấu ấn kiến trúc của người Pháp còn lại vẹn toàn nhất đó là nhà thờ đá Sa Pa.Ngôi nhà thờ này nằm ngay giữa Trung tâm thị trấn. Phía trước là một sân vận động rộng. Hằng ngày, người dân tộc tập trung đông đúc ở đây mua bán, trao đổi hàng hóa. Đây cũng chính là nơi mà thứ 7 hàng tuần réo rắt tiếng khèn gọi bạn của những đôi trai gái trong phiên chợ tình mang đầy nét văn hóa dân tộc và hơi thở núi rừng
(Theo Wedo)
  • 0